
Hôm nay để thoã mãn sự tò mò của các bạn, chúng ta sẽ học về cách dựng hình đa giác đều 15 cạnh. Chúng ta sẽ thấy rằng có một sự liên hệ thú vị giữa bài toán dựng hình này với câu đố mẹo về đo lường mà chúng ta đã học ở bài trước.
Câu đố mẹo về đo lường

Trước hết chúng ta xem lại câu đố mẹo về đo lường mà chúng ta đã học ở bài trước.
Câu đố đo lường. Dùng hai bình thể tích 3 lít và 5 lít, hãy tìm cách đong ra được đúng 1 lít nước.
Với những bài toán đong đếm này, thoạt nhìn qua, chúng ta thấy có vẻ như có vô vàn cách để đong qua đong lại giữa hai bình nước. Nhưng nếu chúng ta xem xét kỹ một chút thì sẽ thấy rằng chúng ta có thể sắp xếp các bước đo lường này theo 8 thể loại như hình sau:

Với 8 thể loại đo lường như trên, chúng ta thấy rằng lượng nước (a,b) trong hai bình sẽ khởi đầu với giá trị (0~ lít, 0~ lít) và sau mỗi bước đong qua đong lại thì giá trị của (a,b) sẽ thay đổi thành một trong 8 giá trị sau (0,b), ~~(a,0), ~~(3,b), ~~(a,5), (0,a+b), ~~(a+b,0), ~~(a+b-5,5), ~~(3,a+b-3).
Từ đó chúng ta dễ dàng chứng minh được kết quả
Lượng nước (theo đơn vị lít) trong hai bình luôn luôn là một số có dạng 3x+5y trong đó x và y là hai số nguyên.
Có nghĩa là nếu chúng ta muốn đong ra được chính xác 1 lít nước thì chúng ta phải biểu diễn con số 1 (lít) thành số có dạng 3x+5y. Vậy câu đố này đưa về việc giải phương trình nghiệm nguyên 3x + 5y = 1.
Phương trình nghiệm nguyên này có vô số nghiệm. Chúng ta dễ dàng thấy được hai nghiệm của phương trình là (x=2,y=-1) và (x=-3,y=2). Hai nghiệm này tương ứng với việc biểu diễn số 1 thành dạng {\bf 3} \times 2 - {\bf 5} \times 1 = 1 {\bf 5} \times 2 - {\bf 3} \times 3 = 1.
Từ đó chúng ta có hai đáp án cho câu đố như sau:
![]() |
Đáp án 1: {\bf 3} \times 2 - {\bf 5} \times 1 = 1: Đong đầy bình 3 lít hai lần và đổ qua làm đầy bình 5 lít một lần, ta được 1 lít. |
![]() |
Đáp án 2: {\bf 5} \times 2 - {\bf 3} \times 3 = 1: Đong đầy bình 5 lít hai lần và đổ qua làm đầy bình 3 lít ba lần, ta được 1 lít. |
Chúng ta vừa thấy rằng câu đố về đo lường có liên quan mật thiết đến việc giải phương trình nghiệm nguyên 3x+5y=1. Một chút xíu nữa, chúng ta sẽ thấy chính phương trình nghiệm nguyên này sẽ giúp chúng ta dựng được hình đa giác đều 15 cạnh!
Bài toán dựng hình đa giác đều
Chúng ta sẽ gọi một đa giác có n cạnh là một n-giác. Ví dụ 3-giác là hình tam giác, còn 5-giác là hình ngũ giác. Đa giác đều là một đa giác có các cạnh bằng nhau và các góc bằng nhau.
Định lý Gauss-Wantzel. Với một số lẻ n, đa giác đều n cạnh có thể dựng được bằng thước và compa khi và chỉ khi n=p_1 \times \dots \times p_t, trong đó p_1, \dots, p_t là các số nguyên tố Fermat phân biệt.
Số nguyên tố Fermat. Một số nguyên tố được gọi là số nguyên tố Fermat nếu nó có dạng F_k = 2^{2^k}+1.Theo định nghĩa trên thì:
- k=0, F_0 = 2^{2^0}+1 = 2^1 + 1 = 3 là số nguyên tố nên nó là số nguyên tố Fermat,
- k=1, F_1 = 2^{2^1}+1 = 2^2 + 1 = 5 là số nguyên tố nên nó là số nguyên tố Fermat,
- k=2, F_2 = 2^{2^2}+1 = 2^4 + 1 = 17 là số nguyên tố nên nó là số nguyên tố Fermat,
- k=3, F_3 = 2^{2^3}+1 = 2^8 + 1 = 257 là số nguyên tố nên nó là số nguyên tố Fermat,
- k=4, F_4 = 2^{2^4}+1 = 2^{16} + 1 = 65537 là số nguyên tố nên nó là số nguyên tố Fermat,
- k=5, F_5 = 2^{2^5}+1 = 2^{32} + 1 = 4294967297 = 641 \times 6700417 là một hợp số.
Bởi vì 3 và 5 là hai số nguyên tố Fermat, nên theo định lý Gauss-Wantzel, tam giác đều và ngũ giác đều dựng được. Ngoài ra vì 15 = 3 \times 5 nên chúng ta cũng dựng được 15-giác đều. Tuy nhiên có một điểm lưu ý trong định lý, đó là các số nguyên tố Fermat trong tích n=p_1 \times \dots \times p_t phải khác nhau. Cho nên mặc dù 9 = 3 \times 3 và 25 = 5 \times 5, nhưng 9-giác đều và 25-giác đều thì không dựng được bằng thước và compa.
Dựng hình đa giác đều 15 cạnh
Như đã nói ở trên, vì 15 là tích của hai số nguyên tố Fermat phân biệt (3 và 5), nên theo định lý Gauss-Wantzel, 15-giác đều có thể dựng được bằng thước và compa. Nhưng chúng ta dựng nó bằng cách nào?

Chúng ta hãy nhìn hình vẽ của một đa giác đều 15 cạnh. Chúng ta thấy rằng các đỉnh của đa giác tạo thành rất nhiều các tam giác đều và các ngũ giác đều.

Hình vẽ trên gợi cho chúng ta một ý tưởng. Đó là, chúng ta hãy thử dựng tam giác đều và ngũ giác đều trước xem sao.
Chúng ta hãy vẽ một hình tròn, rồi chọn một đỉnh P_0 bất kỳ trên hình tròn đó. Sau đó chúng ta dựng một hình tam giác đều A_0 A_1 A_2 và một hình ngũ giác đều B_0 B_1 B_2 B_3 B_4 với đỉnh A_0 = B_0=P_0. Như vậy, mặc dù chúng ta chưa hoàn toàn dựng xong 15-giác đều, nhưng chúng ta đã dựng được "một phần" của nó!

Nhìn kỹ hình vẽ trên. Liệu chúng ta dựng tiếp được các đỉnh khác của hình 15-giác đều hay không? Aaaa! ĐƯỢC RỒI!!!
Rõ ràng từ hình vẽ thì chúng ta đã xác định được hai cạnh của hình 15-giác đều, đó là cạnh A_1 B_2 và B_3 A_2. Nhưng một khi chúng ta dựng được một cạnh thì tất cả các cạnh khác đều dựng được. Ví dụ, chúng ta có thể dùng compa vẽ đường tròn tâm P_0 và bán kính bằng A_1 B_2 thì đường tròn này sẽ cắt đường tròn lớn tại P_1. Rồi từ P_1 chúng ta dựng tiếp P_2, v.v..., tiếp tục như vậy thì chúng ta sẽ dựng được hết các đỉnh còn lại.
Bây giờ, chúng ta cùng nhau viết lại cách dựng hình 15-giác đều
- Dựng một đường tròn và chọn một điểm P_0 trên đó.
- Dựng tam giác đều P_0 P_5 P_{10} và ngũ giác đều P_0 P_3 P_6 P_9 P_{12}.
- Nối hai cạnh P_5 P_6 và P_9 P_{10}.
- Dựng đường tròn tâm P_0 bán kính bằng P_5 P_6, đường tròn này cắt đường tròn ban đầu tại P_1 và P_{14}.
- Dựng đường tròn tâm P_3 bán kính bằng P_5 P_6, đường tròn này cắt đường tròn ban đầu tại P_2 và P_{4}.
- Các đỉnh còn lại P_7, P_8, P_{11}, P_{13} được dựng tương tự.

Vậy là chúng ta đã biết được cách dựng hình đa giác đều 15 cạnh. Bây giờ chúng ta hãy cùng nhau suy ngẫm để tìm ra lý do vì sao chúng ta có được cách dựng này. Rõ ràng điểm mấu chốt trong cách dựng trên là việc chúng ta phát hiện ra đỉnh A_1 nằm cạnh đỉnh B_2, và đỉnh B_3 nằm cạnh đỉnh A_2. Vì vậy mà chúng ta đã dựng được hai cạnh A_1 B_2 và B_3 A_2 cho hình đa giác đều. Tính chất này có thể được giải thích dựa vào phương trình nghiệm nguyên 3x+5y=1 như sau.

Chúng ta hãy chia hình tròn thành 15 đơn vị, thì mỗi cạnh của hình tam giác đều sẽ chiếm 5 đơn vị, còn mỗi cạnh của hình ngũ giác đều ứng với 3 đơn vị. Nếu chúng ta dùng P_0 làm điểm mốc để đo khoảng cách các đỉnh thì đỉnh A_1 ở tại vị trí 5 đơn vị và đỉnh A_2 ở tại vị trí 10 đơn vị. Còn các đỉnh của ngũ giác đều thì, đỉnh B_1 ở vị trí 3, đỉnh B_2 vị trí 6, đỉnh B_3 vị trí 9, và đỉnh B_4 vị trí 12.
Một cách tổng quát thì đỉnh A_i ở vị trí 5i còn đỉnh B_j ở vị trí 3j. Vậy khoảng cách giữa A_i và B_j trên đường tròn sẽ là A_i B_j = |5i - 3j|.
![]() |
A_i ở vị trí 5i, B_j ở vị trí 3j, nên khoảng cách giữa A_i và B_j là A_i B_j = |5i - 3j| |
Một nghiệm của phương trình này là i=2, j=3, theo đó {\bf 5} \times 2 - {\bf 3} \times 3 = 1 và đây chính là lý do vì sao A_2 nằm cạnh B_3 để tạo ra một cạnh B_3 A_2 cho hình 15-giác.
Một nghiệm khác của phương trình là i=1, j=2, {\bf 5} \times 1 - {\bf 3} \times 2 = -1 nghiệm này là lý do để A_1 nằm cạnh B_2.
Như vậy hai cạnh B_3 A_2 và A_1 B_2 của hình 15-giác đều được dựng nhờ vào hai nghiệm nguyên của phương trình 3x+5y=1. Thật là thú vị phải không các bạn!
Từ đây chúng ta dễ dàng mở rộng bài toán như sau
Vẽ một đường tròn và chọn một điểm P_0 trên nó. Vẽ một p-giác đều A_0 A_1 \dots A_{p-1} và một q-giác đều B_0 B_1 \dots B_{q-1} với đỉnh A_0 = B_0 = P_0. Nếu p và q là hai số nguyên tố cùng nhau thì chắc chắn sẽ tồn tại ít nhất hai đỉnh A_x và B_y sao cho A_x B_y tạo thành một cạnh của hình pq-giác đều. Có nghĩa là nếu p-giác đều dựng được và q-giác đều dựng được, thì pq-giác đều cũng dựng được.
Chúng ta tạm dừng ở đây. Các kỳ sau chúng ta sẽ học về cách dựng hình đa giác đều 17 cạnh của nhà toán học Gauss. Hẹn gặp lại các bạn.
Bài tập về nhà.
1. Chứng minh phần mở rộng nói ở cuối bài:
Cho p và q là hai số nguyên tố cùng nhau. Chứng minh rằng nếu bằng thước và compa chúng ta dựng được p-giác đều và q-giác đều thì pq-giác đều cũng dựng được.
2. Vào trang google.com để tìm kiếm các bài viết về cách dựng đa giác đều 17 cạnh của Gauss. (dùng từ khoá: Gauss, dựng hình, 17 cạnh,...)